Trời chiều tháng 5 nắng xuyên quai, thời tiết oi bức không một gợn gió hay bóng mây. Gian phòng bê tông, song sắt bịt bùng hơn 100 mét vuông lúc nhúc thân ảnh. Gần 50 con người nhồi nhét bên trong. Không khí bức bối, đắc quánh sự ngột ngạt, khó chịu.

Lão Tứa nheo mắt nhìn vào khoảng trời bé tý lấp ló sau hai lớp song sắt và một lớp lưới B40, thỉnh thoảng lại đưa mắt nhìn đám người phía dưới. Lớn có, bé có, già có trẻ có, xăm trổ có mà mặt búng ra sữa cũng có. Tất cả họ đều nằm dưới sự cai quản của lão trong cái phòng giam này.

Người ta gọi là Lão Tứa không phải vì lão già tuổi đời mà vì lão là người có “tuổi tù” nhiều nhất ở đây, một kẻ có số má “khét lẹt” trong cái trại giam nơi miền sơn cước heo hút này.

Lão đi tù từ năm 20 tuổi vì dính đến ma túy khi lái xe thuê chở hàng chuyên tuyến từ cửa khẩu về thành phố và ngược lại. Bản án chung thân tròng lên cổ như một tai họa từ trên trời rơi xuống bởi lúc bị bắt lão cũng không hiểu vì sao mình bị bắt. Lão cũng không biết làm thế nào mà trong cabin xe của lão lại có 2 bánh hàng trắng. Nỗi oan khuất cứ thế theo lão đằng đẵng hơn 30 năm trời mà lão chẳng biết bày tỏ cùng ai.

Cha mẹ lần lượt mất trong thời gian lão thụ án. Về sau, họ hàng thân thích cũng không còn một ai đoái hoài thăm nuôi. Cuộc sống của lão từ đó chỉ là bốn bức tường với đám bạn tù.

Từ một thanh niên chưa một mảnh tình văt vai, đang ngời ngời sức sống bước vào đời, giờ đây, hơn 30 năm cơm tù đã biến lão trở thành một gã trung niên chai sạn, gai góc, một đại ca số má - “hòn đá tảng” của cái trại giam này.

Mặc dù nổi tiếng “khét” nhưng được ở chung buồng giam với lão là niềm ao ước của toàn bộ phạm nhân trong trại giam này. Bởi cách hành xử của lão với bạn tù khiến mọi người đều phải kính nể.

Lão không ngán ra tay với bất cứ phạm nhân nào trong trại nhưng chưa lần nào lão xuống tay một cách vô cớ. Trong buồng giam của lão vẫn có phân tầng “giai cấp” cao thấp nhưng không hề có một sự ức hiếp hà khắc như vốn có ở các buồng giam khác.

Chốn lao tù có những “luật” riêng bất thành văn, nhưng trong buồng giam của lão việc áp dụng luật tù được thực hiện một cách có chừng mực, miễn sao mọi thành viên phải “biết điều” và nghe lời.

Cũng nhờ có uy với bạn tù và sự thiện cảm từ các “thầy” (cán bộ trại giam) mà 5 năm trước lão được giảm án từ chung thân xuống “tù có thời hạn”. Điều đó như ánh sáng le lói cuối đường hầm, thắp lên chút hy vọng “tìm lại cuộc đời” đã bị đánh mất bấy lâu của lão.

Kể từ đó, cuộc sống của lão trở nên trầm mặc hơn, an yên hơn. Sự an yên đó cũng “lây” sang cuộc sống của toàn bộ phòng giam.